Chúng ta đang chứng kiến thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học và công nghệ đánh dấu bởi vô số những phát minh kỳ diệu từ các lĩnh vực lý thuyết trừu tượng nhất đến các ứng dụng rộng rãi nhất trong thực tế sản xuất và đời sống mà những phát minh đó đã mang lại.
Cũng đồng thời ngày càng dồn dập thông tin trong nước và trên thế giới về những khả năng đặc biệt của con người, những hiện tượng siêu nhiên kỳ bí trong đời sống cộng đồng, mà chưa cách nào lý giải được thấu đáo trong khuôn khổ những kiến thức hiện có của các ngành khoa học truyền thống.
Tiếp cận những vấn đề này một cách khách quan, tôn trọng sự thật, với thái độ thực sự cầu thị, khiêm tốn học hỏi để khám phá, nhằm mục đích tối thượng phục vụ lợi ích cộng đồng là điều tâm đắc của nhiều nhà khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học phi truyền thống.
Nhiều học giả danh tiếng nhận định rằng thế kỷ 21 sẽ đánh dấu một bước tiến vĩ đại về tư duy khi nhận thức được rằng khoa học và tâm linh không hề đối nghịch nhau, mà ngược lại đó chính là hai lĩnh vực bổ sung cho nhau để nghiên cứu thực tại.
Như Einstein đã khẳng định: “Khoa học, Tôn giáo, Nghệ thuật là ba cành nhánh của cùng một cây” và “cái đẹp nhất mà chúng ta có thể cảm nhận chính là cái bí ẩn”. Đó là cảm thức nền tảng trong nôi của Khoa học và Nghệ thuật chân chính.
Báo cáo này trình bày một số nét khái quát về những thành tựu của vật lý học đương đại trong các lĩnh vực nghiên cứu hạ nguyên tử, đặc biệt là Lý Thuyết Đại thống nhất lượng tử, mà từ đó có thể luận giải tiếp cận các hiện tượng siêu nhiên liên quan đến các dạng tương tác biến hóa phi truyền thống.
Nghiên cứu thế giới hạ nguyên tử cùng với các dạng năng lượng và quy luật tương tác trong đó đã tạo nên thế giới quanh ta ra sao là những vấn đề có tính thời sự cao của Vật lý học đương đại. Cho đến nay lý thuyết và thực nghiệm đã khẳng định sự tồn tại bốn dạng tương tác cơ bản: Mạnh – Yếu – Điện từ và Hấp dẫn. Đó là các tương tác cần và đủ để tạo dựng nên bức tranh của cả vũ trụ như ta cảm nhận.
Một hướng nghiên cứu có tính thời sự bậc nhất là xây dựng mô hình Lý thuyết thống nhất các dạng tương tác cơ bản trên cùng một nền tảng chung trên cơ sở Lý thuyết tương đối rộng Einstein về không gian – thời gian và Thuyết lượng tử. Ý nghĩa của việc nghiên cứu này là cho ta hiểu được sâu sắc hơn về bản chất các hiện tượng và cũng từ đó có được những khám phá mới.
Các mô hình đã xây dựng dẫn đến cách luận giải về cơ chế sinh khởi và chuyển tải tương tác, đặc biệt là bản chất của phạm trù không gian – thời gian.
Cũng từ đây đã xuất hiện những ý tưởng về sự tồn tại các dạng siêu tương tác (ngoài các tương tác cơ bản đã biết – mạnh, yếu, điện từ, hấp dẫn), tương ứng với các dạng siêu năng lượng, liên quan đến các hiện tượng siêu nhiên của thế giới siêu nhiên mà các khả năng của con người bình thường của con người chưa đạt được, cũng như khoa học và kỹ thuật hiện nay chưa đủ trình độ để phát hiện và luận giải.
Các kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng ngoài các chiều không – thời gian như chúng ta đang sống và cảm nhận, nhất thiết phải có các chiều ẩn khác được gọi là các chiều phụ trội (Extradimensions) hoặc các chiều nội tại (Internal dimensions). Có giả thuyết cho rằng các triều phụ trội liên quan đến thế giới siêu nhiên, các quy luật tác dụng trong đó mang màu sắc các phạm trù tâm linh và các tương tác tâm linh được chuyển tải qua các triều phụ trội.
Ở đây ta có thể liên tưởng đến một dạng siêu tương tác bắt nguồn từ lòng từ bi bác ái được nói đến nhiều trong Kinh Phật, Kinh Thánh. Môi trường tình thương tạo ra một dạng tương tác tâm linh với “ năng lượng Tình Thương” có khả năng nhiệm màu giúp hóa giải bệnh tật và vượt qua mọi chướng ngại.
Một mô hình Lý Thuyết Đại thống nhất lượng tử được đánh giá có nhiều triển vọng là Lý thuyết siêu dây/ Lý thuyết M
Lý thuyết siêu Dây (Superstring Theory) xem các hạt cơ bản như những sợi dây cực bé, các trạng thái của hạt như những cung bậc rung chuyển kích thích của Dây – Như vậy toàn cảnh các hiện tượng trong vũ trụ có thể ví như một bản giao hưởng hòa tấu vũ trụ huyền diệu theo sự chỉ huy của một nhạc trưởng vũ trụ siêu nhiên – Đấng Tạo Hóa tối cao.
Điều đặc biệt là trong cấu trúc nền tảng của Lý Thuyết Siêu Dây phải có các hạt Vong (ghosts). Các hạt vong không thị hiện trong không – thời gian thông thường nhưng lại có tác dụng quyết định trong cấu trúc của Lý Thuyết và từ đó các hệ quả vật lý, đặc biệt là tính chất hình học của các chiếu phụ trội. Có thể hiểu là các hiện tượng diễn ra trong thế giới thông thường (Ngoại hư không) khởi nguồn thi vị tạo tác tại các chiều phụ trội (Nội hư không).
Trong thời gian gần đây chúng tôi (ĐVĐ và cộng sự) cũng đã có một số công trình công bố ở các tạp chí Vật lý quốc tế có uy tín với các kết quả nghiên cứu lý thuyết chứng tỏ rằng các chiều phụ trội với tính chất hình học tương ứng là nơi khởi nguồn tạo nên các dạng tương tác biến hóa thể hiện trong không – thời gian thông thường.
Lý Thuyết Siêu Dây được phát triển nâng cao thêm thành Lý Thuyết M (M – Theory, Magic, Mystery, Mother,…)
Trên cơ sở Lý Thuyết M có hy vọng tìm được cách tiếp cận các hiện tượng siêu nhiên đang được xem là thần bí, huyền bí,…
Một hệ quả ấn tượng của Lý thuyết M là sự tồn tại Đa vũ trụ song song có khả năng tồn tại 10500 vũ trụ, tạo nên từ sự thăng giáng lượng tử của chân không, có tương quan “chằng chịt lượng tử” với nhau. Bản thân mỗi con người cũng đều có phiên bản ở tất cả các vũ trụ đó, và tương quan chằng chịt với nhau. Như vậy có thể hiểu là tồn tại vô số con người trong cùng một con người.
Những kết quả trên đây cũng hoàn toàn tương thích với Lý thuyết toàn ảnh (Holography) Bohm – Pribram với quan điểm rằng vũ trụ là một toàn ảnh (Hologram), bộ não cũng là một toàn ảnh cuộn vào trong vũ trụ toàn ảnh đó. Mọi thành phần của vũ trụ dung thông với nhau (Intercomected) và ngược lại toàn bộ vũ trụ hiện hữu trong mọi thành phần của vũ trụ.
Sự dung thông của vũ trụ trong Lý thuyết toàn ảnh cũng hoàn toàn tương thích với sự dung thông luận giải từ Kinh Phật. Do có sự dung thông tuyệt đối giữa các phân thân của Đấng Tạo Hóa tối cao ẩn trong mọi pháp mọi nơi, trong vũ trụ là cả một quá trình dung thông giữa mọi vật. Như vậy về nguyên tắc con người có thể thu nhận được thông tin về tất cả các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ.
Nội hàm của Lý Thuyết Toàn Ảnh một cách ngẫu nhiên phù hợp với mấy câu thơ của William – Blake khoảng hai thế kỷ trước, tạm dịch như sau:
Để thấy vũ trụ trong từng hạt bụi
Trong bông hoa dại thấy cõi Thiên Thai
Hãy nắm vô tận trong lòng bàn tay
Và cả Thiên thu một giờ giữ lấy
Một lĩnh vực nghiên cứu có tính thời sự cao đang trên đà phát triển sôi động là Máy tính lượng tử – Viễn chuyển lượng tử – Thông tin lượng tử, và một hướng nghiên cứu nảy sinh từ đó là Viễn chuyển tâm linh (Psychic Teleportation). Bản chất của Viễn chuyển tâm linh là áp dụng các nguyên lý của Máy tính lượng tử, bằng cách sử dụng một dạng năng lượng tâm linh huyền bí để dung thông truyền đạt ý nghĩ điều khiển các vật thể di chuyển biến hóa.
Đã có ý tưởng đề suất cho rằng trong mỗi con người đều có một siêu máy tính lượng tử đã được Tạo Hóa gắn vào não bộ. Từ các nghiên cứu về cấu trúc của tế bào sống đã có những lập luận khẳng định rằng các vi mạch thần kinh có các thuộc tính lượng tử thực hiện các chức năng như những cấu phần của máy tính lượng tử để lưu trữ và truyền tải các thông tin được mã hóa dưới dạng các trạng thái lượng tử.
Nhân đây cũng cần nhắc đến giả thuyết của chủ nghĩa Duy Tự nhiên (Naturalism) cho rằng thế giới tự nhiên là một hệ khép kín, với hàm ý rằng không một yếu tố nào từ ngoài có thể tác động gây ảnh hưởng đến thế giới đó. Tuy nhiên điều này trái với định lý bất toàn Godel (1931) đã chứng minh rằng một hệ thống logic không bao giờ là phi mâu thuẫn. Muốn lý giải được mọi thứ phải có thêm yếu tố ngoại lai – chấp nhận niềm tin. Mọi lập luận rốt cuộc đều quay lại với niềm tin vào điều gì đó bất khả tư nghì.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
2. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
3. Đào Vọng Đức, Các nguyên lý cơ bản của lý thuyết siêu dây lượng tử, NXB Khoa học và công nghệ, 2007.
4. Đào Vọng Đức – Phù Chí Hòa, Từ thuyết lượng tử đến máy tính lượng tử, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2012
5. Đào Vọng Đức – Phù Chí Hòa, Lý thuyết tương đối rộng với không – thời gian đa chiều, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2015
6. D.V.Duc et al., Charge – Mass Sum Rules for Unified Spinor Fields in Extradimentions…Modern Physics Letters, 2019, vol 33, 1950130.
