1.Chủ nhiệm đề tài:

TS. Nguyễn Thị Hồng Nga, Nhà nghiên cứu Trần Thu Hà, GS. Ngô Đức Thịnh, Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Mạnh, Nguyễn Văn Hà.

2.Giới thiệu về Đạo Mẫu và Mục tiêu nghiên cứu

Tín ngưỡng Việt Nam luôn có sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên, là sự phản ánh đậm nét nguyên lý âm dương, là khuynh hướng đề cao người phụ nữ.

Tục thờ Nữ Thần của người Việt có nguồn gốc sâu xa trong đời sống kinh tế và xã hội.  Thờ Nữ thần là một hình thái ý thức với những Nữ thần được tôn thờ như các vị Tổ nghề, các vị Nữ tướng.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tôn sùng, ngưỡng mộ, tôn vinh những vị Nữ Thần gắn với các hiện tượng tự nhiên vũ trụ được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, bảo trợ, che chở cho sự sống của con người. Các vị nữ thần này được tôn vinh các chức vị: Thánh Mẫu (như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chúa sứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu, Thượng ngàn Thánh Mẫu,…), Quốc Mẫu Âu Cơ, Vương Mẫu như Mẹ của Ngài Thánh Gióng.

Tục thờ Đạo Thánh Mẫu ở Việt Nam thờ bốn vị Thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa phủ.Mẫu Thượng Thiên cai quản miền trời, làm chủ mây mưa sấm chớp. Ngài mặc áo đỏ.

Mẫu Thượng Ngàn cai quản miền núi, cai quản rừng núi cây cối. Ngài mặc áo màu xanh.Mẫu Thoải cai quản miền sông nước, cai quản thủy phủ. Ngài mặc áo màu trắng.

Mẫu Địa cai quản miền đất đai, cai quản đất đai. Ngài mặc áo màu vàng. Dưới bốn vị Thánh Mẫu có năm ông quan lớn làm nhiệm vụ thừa hành, từ quan Đệ Nhất đến quan Đệ Tứ phái viên tương ứng Tứ tòa Thánh Mẫu, Quan Đệ Ngũ là Quan Tuần Tranh.  Tầng thấp hơn bốn vị Thánh Mẫu là các Ông Hoàng, 12 tiên cô, hàng cậu.Hầu hết các tỉnh thành ở miền Bắc, miền Trung và một số tỉnh miền Nam đều có Đền thờ Thánh Mẫu.

Một trong các yếu tố đóng góp vào sự trường tồn của Đạo Mẫu Việt Nam là các thanh đồng. Thanh đồng là người có niềm tin mãnh liệt vào sự linh thiêng bất diệt của Đạo Mẫu, họ là người bảo tồn và phát triển hệ thống Đạo Mẫu Việt Nam.

Lên Đồng là nghi lễ chính của thờ Đạo Thánh Mẫu, là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh thần vào thân xác của thanh đồng để chuyển đạt hệ thống niềm tin vào Mẫu và Linh hồn. Hai niềm tin này chiếm tỉ lệ khá cao và có ảnh hưởng lớn như một phương pháp trị liệu cho người bệnh đặc biệt hiệu quả đối với các loại bệnh tâm thần (hay dân gian gọi là “bệnh âm”). Một chức năng cơ bản của Nghi thức nhập hồn của các vị Thánh vào thanh đồng là để chữa bệnh, đoán số và ban phúc lộc.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng các thanh đồng trong hệ thống Đạo Mẫu, sàng lọc và nghiên cứu sâu những thanh đồng có khả năng đặc biệt, tìm hiểu sự tác động của nó đến sức khỏe, đời sống tinh thần của nhân dân và đưa ra kiến nghị, đề xuất trong quản lý, duy trì và phát triển tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

-Khảo sát thực trạng khả năng đặc biệt của con người trong hệ thống Đạo Mẫu Việt Nam.

-Thống kê nghiên cứu khoảng 50 thanh đồng, sàng lọc 5-6 thanh đồng có khả năng đặc biệt được cộng đồng ghi nhận.

-Tìm hiểu nguyên nhân khách quan dẫn đến việc phải trình đồng và sự xuất hiện khả năng đặc biệt của thanh đồng.

4. Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp quan sát: Trực tiếp theo dõi các buổi hầu đồng của các thanh đồng

-Phương pháp phỏng vấn: Bằng bảng hỏi: Dùng phiếu khảo sát với từng thanh đồng

-Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến của chuyên gia chuyên sâu, các thủ nhang, chính quyền địa phương…

-Phương pháp thống kê, tổng hợp thông tin-Phương pháp phân tích tài liệu

-Kỹ thuật sử dụng: quay video, ghi âm, chụp ảnh, ghi chép.

5.Địa điểm và thời gian nghiên cứu

-Hà Nội và một số tỉnh thành ở miền Trung và miền Nam.

-Thời gian thực hiện: Từ tháng 8/2009.

6.Kết quả nghiên cứu

Hệ thống hóa được cơ sở dữ liệu thông tin của 112 thanh đồng, gồm các trường dữ liệu về: Họ và tên, Tuổi, Giới tính, Nơi nở, Nghề  nghiệp, Trình độ học vấn chính trị, Tuổi Đồng, Hiện trạng sinh hoạt Đồng (Có Đền, Điện/Không), Nguyên  nhân tại sao ra Đồng, Cảm giác khi Hầu Đồng, Sự thay đổi của Đời sống sau khi Hầu Đồng, Khả năng đặc biệt.

Cơ sở dữ liệu cho thấy 1 số thông tin có ý nghĩa như sau:

+ Phân loại theo địa bàn: Địa bàn của 112 thanh đồng ở nằm trên 12 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai. Trong đó Huế đứng số một về số lượng thanh đồng (34 thanh đồng), Hải Phòng đứng thứ hai (31 thanh đồng), Hà Nội đứng thứ ba (15 thanh đồng), và Nam Định đứng thứ tư (11 thanh đồng). Các tỉnh, thành phố còn lại số lượng thanh đồng nhỏ từ 1-5 người/tỉnh, thành phố. Số lượng thanh đồng của các tỉnh, thành phố miền bắc cao hơn nhiều so với tỉnh, thành phố miền nam.

+ Phân loại theo trình độ học vấn: 7% thanh đồng có trình độ trên đại học; 14% thanh đồng có trình độ đại học, cao đẳng; 2,6% thanh đồng có trình độ trung cấp; 41% thanh đồng có trình độ cấp 3; 27,7% thanh đồng trình độ cấp 2; 6,3% thanh đồng trình độ cấp 1; 0,9% thanh đồng không biết chữ. Điều đó cho thấy việc họ trở thành thanh đồng không phải do trình độ học vấn thấp.

+ Phân loại theo nghề nghiệp: 33,9% thanh đồng làm doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất; 24,1% thanh đồng là công chức nhà nước; 21,4% thanh đồng làm nghề thầy cúng, thủ nhang, cung văn; 1,8% thanh đồng trong lực lượng vũ trang; 18,8% thanh đồng làm các nghề khác nhau. Điều này cho thấy ảnh hưởng của tính chất nghề nghiệp có tính ảnh hưởng đến việc trở thành thanh đồng, tập trung ở nhóm nghề nghiệp có khát vọng vươn tới sự thành đạt trong sự nghiệp.

+ Trong 112 thanh đồng được nghiên cứu, 100% thanh đồng cho biết đời sống của họ tốt hơn và tốt hơn nhiều trước khi ra hầu đồng. Cụ thể, có 15/112 (13,4%) thanh đồng cho biết  đời sống của họ “tốt hơn nhiều” sau khi ra hầu Đồng, và 97/112 thanh đồng (86,6%) cho biết đời sống của họ “tốt hơn” sau khi ra hầu Đồng.  Kết quả này rất đáng lưu ý, bởi vì trước khi ra hầu Đồng, thanh đồng  hầu hết trải qua những biến cố bất thường về tinh thần, đa số đã đi đến trạng thái khủng hoảng và bế tác, một số không muốn tiếp tục cuộc sống do ốm đau, bệnh tật.

Kết quả khảo sát cho thấy, tất cả các thanh đồng đều ở trạng thái hưng phấn, phấn khích khi hầu đồng.

Nghiên cứu trường hợp của 6 thanh đồng có khả năng đặc biệt trong quá trình thanh đồng làm việc Thánh (hay còn gọi là “bắc ghế hầu Thánh” theo cách gọi dân gian) được trực tiếp quan sát, ghi chép, ghi hình, ghi âm, chụp ảnh với sự tham gia của người dân,  là các trường hợp điển hình nhất, có sức thuyết phục nhất cả về phương diện thực tiễn và tâm linh. Các thanh đồng có khả năng đặc biệt có các phương pháp khác nhau khi tiếp cận với thân chủ.

Thanh đồng Phạm Thị Hòa: Khả năng chữa bệnh.

Thanh đồng Trần Ngọc Ánh: Dự báo, nhập hồn, chữa bệnh, tìm mộ.

Thanh đồng Nguyễn Thị Khuy: Khả năng dự báo, tìm người thất lạc, tìm mộ.

Thanh đồng Dương Mạnh Hùng: Khả năng bắt mạch Thái Tố để tìm mộ và vẽ chân dung người âm.

Thanh đồng Vũ Ngọc Chinh: Nói chuyện được với người âm.

Thanh đồng Mai Thị Hồng: Khả năng chữa bệnh và dự báo.

7.Kết luận và Khuyến nghị Hệ thống Đạo Mẫu là tín ngưỡng được thừa nhận như một sinh hoạt tinh thần, với những ý nghĩa tích cực đã được công nhận trong xã hội.

Vai trò của thanh đồng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống Đạo Mẫu.

Nghi lễ hầu bóng được thừa nhận như một sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống được thực hiện bởi các thanh đồng.

Bên cạnh những mặt tích cực của tín ngưỡng truyền thống, thì mặt tiêu cực vẫn tồn tại đó là hiện tượng lợi dụng lên đồng để truyền, phán,.. nhằm thu lợi bất chính.

Để xác định được một số thanh đồng có khả năng đặc biệt, ứng dụng có hiệu quả trong đời sống cộng đồng, cần dành nhiều thời gian công sức để nghiên cứu, sàng lọc. Để phát huy được một cách có hiệu quả khả năng đặc biệt của thanh đồng, cần có một chương trình nghiên cứu dài hạn mang tính phổ quát hơn, đầu tư thời gian và kinh phí, có sự kết hợp với các cơ quan có chức năng, để có thể phát hiện thêm những thanh đồng có khả năng đặc biệt nhằm phục vụ cộng đồng và làm sáng tín ngưỡng truyền thống-Đạo Mẫu.

Cần có sự quản lý, giám sát một cách có tổ chức nhằm giúp cho việc thực hiện các vấn đề về văn hóa tín ngưỡng được lành mạnh và có tác dụng tích cực đối với đời sống cộng đồng.